Bài viết ghi lại trải nghiệm 15 ngày thực tập khảo cổ của sinh viên K70 Khoa Lịch sử tại di tích Ngòi Nhù (tỉnh Lào Cai), từ những bỡ ngỡ ban đầu đến quá trình làm quen với kỷ luật khai quật, nguyên tắc địa tầng và lao động tập thể.
Chuyến đi thực tập khảo cổ tại di tích Ngòi Nhù (Bảo Thắng, Lào Cai) bắt đầu trong sự ngỡ ngàng đan xen lo lắng, bởi vốn dĩ chúng tôi đã chuẩn bị sẵn tinh thần bị hoãn vì lý do khách quan. Thậm chí ngay khi xe bắt đầu lăn bánh, nhìn thành phố dần xa, tôi vẫn không thể đủ sức mường tượng về 15 ngày tới sẽ xảy đến như thế nào. Để rồi khi quay trở về, tôi có nhiều hơn một câu trả lời.
Khởi hành từ rạng sáng ngày 10/12/2025, K70 Khoa Lịch sử chúng tôi chia tay hai đoàn thực tập: đoàn tôi và đoàn Quảng Ninh. Nhìn Hà Nội khuất lấp, lòng tôi có chút hụt hẫng vì không thể thực tập chung đoàn với những người bạn thân thiết từ đầu năm. Tôi mải buồn đến độ quên đặt dấu chấm hỏi cho điểm đến phía trước, mãi sau vì mệt mà ngủ thiếp đi. Khi tỉnh dậy đã thấy mình đang trên cung đường cao tốc Hà Nội – Lào Cai rồi, khi ấy, nơi đến của chúng tôi còn cách nửa giờ đi xe nữa. Trước mắt tôi là núi non trùng trùng điệp điệp, ban đầu sương mù phủ kín, gần đến trưa thì quang đãng mát mẻ, nắng hiện rõ.
Nơi tôi thực tập là thôn An Thắng, xã Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai. Chúng tôi lưu trú tại nhà dân quanh địa điểm khảo cổ. Nơi sinh hoạt chung là nhà trưởng thôn, chúng tôi ăn uống và tổ chức các buổi họp ở đó. Sau khi xuống xe, thầy Diệp phổ biến sơ bộ về nội quy sinh hoạt rồi chị Thư, anh Đạt dẫn chúng tôi về từng nhà một theo nhóm. Khoảnh khắc mong chờ về điểm nghỉ ngơi khá thú vị, tôi cùng 6 người bạn được anh Đạt giúp bê đồ về nhà cô Thìn. Cô ở một mình, chú Tuấn chồng cô thỉnh thoảng mới về, nhà cấp 4, kiến trúc đơn giản nhưng với tôi thì thế là may mắn. Cô chuẩn bị sẵn hết nệm, chiếu cho chúng tôi, sợ rằng “nhà cô thiếu thốn, các con khổ”, thế mà cô đâu biết 15 ngày tới chúng tôi biết ơn cô vô cùng. Ngày đầu tiên chúng tôi được nghỉ ngơi và thích nghi với nơi ở mới, dọn dẹp đồ đạc và tinh thần cho ngày mai. Riêng tôi và Dung – bạn cùng nhà được phân công làm bếp cho ngày thứ hai, vì vậy chiều hôm ấy cả hai đã mượn xe cô chủ nhà đi chợ. Chợ trên Phố Lu cách chúng tôi gần 8 km, đường gồ ghề khó đi lại, nhiều xe vận tải lớn chạy với tần suất cao, bụi tung mù mịt, dọc đường thưa dân và thiếu thốn các tiện nghi. Xuất phát từ sớm nhưng mãi tối muộn mới về tới nơi, đôi lần lạc đường vì cây cối um tùm, thiếu chỉ dẫn, thế mà chúng tôi vẫn cười ngây ngốc bên chiếc xe chất đầy thực phẩm, đồ dùng thiết yếu cả đoàn nhờ mua. Bụi phủ kín người nhưng dần khiến tôi hi vọng cho những ngày tới.
Sang ngày tiếp theo, sau khi ăn sáng thì cả đoàn di chuyển ra hố khai quật. Thầy giới thiệu sơ lược về di tích Ngòi Nhù với liền kề con suối Nhù thơ mộng, đổ về hướng sông Hồng từ đó hiểu rõ hơn về vị trí khai quật của cả đoàn. Vì phân chia theo hai ca, tôi cùng đội nấu ăn nhanh chóng di chuyển về nhà chung để chuẩn bị bữa trưa. Những chật vật ban đầu từ khâu mua sắm đến sơ chế thực phẩm đều được chị Loan (người địa phương hỗ trợ đoàn nấu ăn) gỡ rối. Bài học đầu tiên tại đây không ngờ lại là cách thức chuẩn bị cơm đoàn cho 36 con người, với đủ tiêu chí: ngon, bổ, rẻ và đủ. Tôi, Dung, Ngọc Anh và Cừ mỗi người một việc, người canh bếp lửa, người băm thịt, người chế biến và người thì nấu chính. Suốt cả ngày hôm ấy, chị em chúng tôi đã làm thân nhau bên nồi bếp nóng ran cùng vô số câu chuyện phiếm rôm rả. Cảm giác rã rời tay chân và hóng hớt đợi chờ bạn mình đi làm về khó tả, nhưng sau cùng khi quây quần giờ cơm, tất cả chừa lại cho hạnh phúc bé nhỏ: cả nhà khen ngon.
Phải qua ngày thứ 3 tôi mới chính thức bắt tay vào công việc chính của chuyến đi thực tập này – khai quật. Ban đầu khi ra hố, nhóm chúng tôi khá bỡ ngỡ, thầy Diệp cùng các anh dẫn đoàn phổ biến cách sử dụng cuốc, nạo để bóc tách lớp đất. Trong quá trình
hiện, chúng tôi luôn được nhắc nhở phải thật tỉ mỉ, kĩ càng trong mọi thao tác. Trên cơ sở khai quật theo phương thẳng đứng, mỗi lớp đất chỉ được khai quật dày từ 5 đến 10 cm, sau đó đều phải dừng lại để nạo sạch, chụp ảnh, vẽ và đo cao độ đầy đủ. Nhiều lần chúng tôi khá nản vì tiến trình diễn ra chậm, nhiều công đoạn lặp lại, nhưng càng làm, càng nghe giảng, chúng tôi càng hiểu mọi thông tin trong lúc vội vàng, qua loa đều có thể bị trôi mất. Thậm chí ngay cả những hiện vật đá quen thuộc đều được thu lượm đi đôi ghi chép cẩn thận, tránh bỏ sót.
Trên dưới chục lần câu gọi “thầy ơi”, “anh ơi” vì mấy đứa năm nhất chúng tôi lại đào thêm được hiện vật mới, cả đám hò reo ăn mừng như mấy đứa nhóc con, thạo việc rồi thì nhớ lại ai cũng buồn cười. Nhưng quả thật là chỉ ngày đầu làm việc tôi đã hiểu cái nghề mọi người thường trêu là “nghề đào đất” lại khó khăn đến thế. Chỉ cần sơ suất liền mất tong cả quá trình. Và “hành trình đào đất” không chỉ dừng lại ở cặm cụi thi nhau tìm được hiện vật, đó còn là hành trình lí giải, tìm hiểu, khám phá ngược về quá khứ, về những lớp người, bối cảnh hình thành, lối sống cách ta nghìn năm thời gian. Qua sự phân bố hiện vật và mối quan hệ giữa tầng văn hóa với sinh thổ, mục đích khai quật được thông hành rõ ràng, chúng tôi dần bước vào 15 ngày chăm chỉ.
Trong quá trình làm việc, thầy giáo nói với chúng tôi hố khai quật tại di tích Ngòi Nhù có một phần đã bị xáo trộn. Sau khi mở hố thì người dân cho biết trước đây khu vực này từng sử dụng để đun đường, sau đó bị san lấp đất lại nên bị lẫn lộn rất nhiều thứ, vậy nên trước khi khai quật một tầng văn hóa phải bóc hết những thứ xáo trộn ấy đi để nó không bị lẫn các hiện vật của các giai đoạn khác vào với nhau. Nếu như chúng ta khai quật theo từng lớp mà không để ý những cái xáo trộn, những màu sắc khác nhau, hay hố vôi, hố đào mà không bóc đi trước thì sẽ bị lẫn vào tổ hợp di vật gây nhiễu các nhận định về niên đại, tính chất. Đây cũng là một bài học thực tế giúp tôi nhận thức rõ hơn về nguyên tắc khai quật khảo cổ. Trước khi tiến hành khai quật, nguyên tắc lập kế hoạch theo từng giai đoạn đã được áp dụng thông qua việc các chuyên gia khai quật một hố trước đó để kiểm tra và nắm rõ đặc điểm địa tầng của di tích.
Đối với nguyên tắc khai quật trên diện rộng, trong thực tế đợt khai quật tại Ngòi Nhù năm 2025, nguyên tắc này chưa được áp dụng. Các hố khai quật được mở chủ yếu nhằm mục đích nghiên cứu địa tầng, chưa đủ điều kiện để khai quật diện rộng nhằm làm lộ toàn bộ không gian cư trú. Không phải nguyên tắc nào cũng có thể áp dụng đầy đủ trong mọi cuộc khai quật, mà cần linh hoạt tùy thuộc vào mục tiêu và điều kiện cụ thể của từng di tích.
15 ngày làm việc ở hố khai quật, chúng tôi – sinh viên thực tập cùng thầy và các anh đã có nhiều khoảnh khắc đáng nhớ. Có những lúc vì quá mệt mà nằm lăn ra ngủ trên bạt, người lấm lem bùn đất, và mồ hôi thấm đẫm lưng áo, tôi lại thêm nể phục những người thầy, cô đi trước đã hết mình với nghề. Trong một khắc, tôi đồng cảm và thêm yêu nhiều hơn ngành học này, một công việc lí giải quá khứ và nối liền tương lai. Thỉnh thoảng điểm lại những phút giây ở hố, tôi vẫn hạnh phúc căng tràn với hình ảnh mọi người cười đùa vui vẻ để vơi đi cái mệt. Có ngày nắng, ngày âm u, trời sương mù, cũng có khi oi ả, sào treo đồ đồ bằng cây vẫn chi chít áo khoác, tiếng cười đùa vẫn vang vọng cả một khu đất. Tôi đã yêu công việc khảo cổ này từ lúc nào không hay. Ngày qua ngày, dần chẳng muốn ngưng lại...
Bên cạnh công việc chuyên môn, tôi học thêm nhiều điều mới. Những điều có lẽ nếu không có chuyến đi này, sẽ phải mất rất lâu để tôi thay đổi.
Vài ngày đầu tiên sau khi đến Lào Cai, tôi vẫn khá dè chừng và ngại chia sẻ với các bạn. Tôi thích một mình dù bản thân là người dễ dàng trong giao tiếp. Thế nhưng đảm nhiệm cương vị “trưởng nhóm nhà”, tôi như sống có trách nhiệm hơn, trở thành thành viên kết nối các bạn lại gần nhau, mở lòng và đón nhận lại muôn vàn tình cảm từ mọi người. Tôi biết tìm kiếm sự trợ giúp từ những người xung quanh, làm việc cùng tập thể chứ không chỉ cho riêng mình; mà sau mỗi lần được giúp đỡ, tôi lại học hỏi thêm một cách làm việc khoa học. Chúng tôi với tâm hồn 18 tuổi đầy non nớt có những ngày trực trào nỗi nhớ nhà đã ôm lấy nhau vỗ về như anh chị em ruột thịt. Mùa đông Lào Cai về đêm lạnh buốt, không ai bảo nhau nhưng thỉnh thoảng lại thấy người này đắp chăn cho người kia, cùng nhau co ro, cùng nhau san sẻ miếng quần, manh áo chắn gió. Cô chủ nhà thuở đầu khá khó tính, có lúc 6 đứa con gái chúng tôi mải giặt đồ làm hết nước tắm của cô, chắc cô cũng giận lắm. Tưởng chừng mấy cô cháu sẽ mãi xa lạ. Vậy mà ở chung lâu ngày, chúng tôi lại thèm được nghe tiếng cô gọi dậy giục ăn sáng, thích thú những câu chuyện cô kể cho cả bọn nghe mỗi tối, cười phá lên khi cô chú trêu nhau,... “Cún ơi ăn cái này không” chú vô thức gọi chúng tôi như thể gọi 6 đứa con gái rượu trong nhà. Không chỉ biết gỡ rối giao tiếp trong quan hệ với cô chủ nhà, mà chúng tôi dần thấu hiểu được tâm lí người dân thôn An Thắng này, những con người xa lạ mới gặp gỡ làm quen chúng tôi cách đây ít hôm thôi. Biết cảm thông và đặt mình vào góc nhìn của người khác, chúng tôi không còn giữ lại quá nhiều mâu thuẫn và chấm hỏi trong lòng. Phải công nhận, chúng tôi rất giống họ ở một vài điểm, và cũng khác họ ở nhiều điểm – sự đa dạng trong văn hóa, lối sống khiến tôi khách quan hơn, trưởng thành hơn. Chúng tôi cũng nhận thức được khái niệm “tập thể”, nó không sáo rỗng, không chung chung như ta tưởng. “Tập thể” là mỗi bữa ăn đều chờ nhau góp mặt đông đủ, người ốm được để phần đầy ắp bát cơm; là khi khó khăn không ngại giúp đỡ; là những buổi tụ tập uống nước chè, đăng kí học phần, rủ nhau ra suối xây lâu đài cát, hay những tờ đề cương xếp chồng bên nhau; “tập thể” còn là tinh thần bảo vệ, những cái ôm khi nước mắt lăn dài, những câu chuyện riêng tư được “khai quật”, và những viên thuốc trao nhau khi sốt... Tôi đã thôi rảo bước một mình, đã biết chậm bước lại và dóng hàng với bạn bè. Đã biết yêu cái nắng gió của mảnh đất nơi đây, hòa mình và trải nghiệm làm người dân thôn An Thắng suốt 15 ngày. Tôi buông bỏ những muộn phiền trước đó để tường tận minh mẫn lại hành trình học tập của bản thân, những mục tiêu cần gặt hái.
Thực tập khảo cổ cho tôi có thêm một đại gia đình, có hỉ nộ ái ố, có nhiều kỉ niệm để nhắc lại, có một trái tim căng tràn lẽ sống. Thương lắm hình ảnh thầy giáo tận tụy làm việc, luôn nhiệt huyết và dễ mến với học trò, người dân; thương lắm mồ hôi các bạn mỗi ngày làm việc, chia nhau ly nước, găng tay; thương nhiều cả sự săn sóc từ ba anh dẫn đoàn: Anh Phúc, Khánh Khôi, Xuân Sơn. Đặc biệt là những người bạn bên tôi mỗi bữa cơm ngon: Thùy Dung, Ngọc Anh, Mỹ Duyên, Ngọc Ánh, Quỳnh Chi, Tiến Cừ. Sau cùng là tất thảy mọi điều làm nên chuyến đi thực tập này – “lần đầu” – mở lối cho những lần sau. Tuổi trẻ nên lấm láp bụi đường và nên hăng hái với đam mê của mình, cứ xông pha và sẵn sàng đối mặt, tôi nghĩ mình không cô đơn.
Trở về Hà Nội, Tôi thêm thương nhớ từng nơi đã đi qua. Có thêm nhiều người bạn mới. Mục tiêu mới.